logo ajeb vi

Giỏ hàngCart

    MUACheckout
    Gửi bài viết Submit Article

    Năm thứ. 2026_4_241

    Tháng 4/2026

    • Vai trò của FDI đối với thu nhập cấp tỉnh ở Việt Nam: Bằng chứng về tác động phi tuyến và phụ thuộc vào trình độ phát triển (trang P4-18 (P5-19))
      Nguyễn Trần Phúc
      Ngày xuất bản: 23 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.001
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(474K)
      Tóm tắt

      Tóm tắt:

      Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này xem xét tác động phi tuyến (TĐPT) của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với thu nhập cấp tỉnh tại Việt Nam và kiểm định liệu tác động của FDI có phụ thuộc vào mức thu nhập ban đầu của địa phương.

      Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Sử dụng dữ liệu bảng 59 tỉnh thành giai đoạn 2002–2022, nghiên cứu áp dụng System GMM để kiểm tra tác động phi tuyến của FDI đối với thu nhập cấp tỉnh. Tính phi tuyến được kiểm định thông qua biến bậc hai của FDI với sự hiện diện của biến tương tác giữa FDI với thu nhập trễ, đồng thời kiểm tra độ vững bằng mô hình phi tuyến ước lượng theo các khoảng giá trị của cường độ FDI.

      Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy thu nhập có tính dai dẳng cao, phù hợp với khung hội tụ có điều kiện. FDI có tác động dương nhưng phi tuyến dạng parabol ngược, và mức tác động của FDI phụ thuộc vào trình độ phát triển của địa phương. Theo đó, mức FDI mà tại đó tác động cận biên bắt đầu giảm là khác nhau giữa các địa phương có trình độ phát triển khác nhau. Các kiểm định độ vững xác nhận rằng dạng phi tuyến là một đặc điểm mang tính cấu trúc trong tác động của FDI.

      Giá trị đóng góp mới: Kết quả về tác động phi tuyến và phụ thuộc vào trình độ phát triển của FDI đối với thu nhập cấp tỉnh hàm ý rằng chính sách nên chú trọng phân bổ FDI theo không gian và nâng cao khả năng hấp thụ của địa phương tiếp nhận.

    • Chuyển đổi số, chất lượng tương tác trực tuyến và hành vi quay lại của khách hàng tại khách sạn 5 sao Thành Phố Hồ Chí Minh (trang P4-16 (P152-164))
      Bùi Đức Sinh
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.012
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(413K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá tác động của các thành phần chuyển đổi số (CĐS) đến hành vi quay lại (HVQL) của khách hàng tại các khách sạn 5 sao trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), đồng thời kiểm định vai trò trung gian của chất lượng tương tác trực tuyến (CLTTTT) trong mối quan hệ này. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu khảo sát từ 349 khách hàng đã trải nghiệm dịch vụ tại các khách sạn 5 sao ở TP. HCM. Dữ liệu được phân tích bằng mô hình PLS-SEM kết hợp bootstrapping nhằm kiểm định những giả thuyết và đánh giá các ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy CLTTTT có ảnh hưởng cùng chiều và đạt ý nghĩa thống kê đến HVQL của khách hàng. Trong các cấu phần CĐS, tích hợp dữ liệu đa kênh tạo ra ảnh hưởng dương mạnh nhất đến cả CLTTTT và HVQL; tiếp theo là tự động hóa quy trình và ứng dụng công nghệ số tại các điểm tiếp xúc khách hàng. Kết quả này cho thấy giá trị của CĐS không chỉ nằm ở công nghệ, mà còn ở khả năng nâng cao chất lượng tương tác trong môi trường số. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu làm rõ cơ chế mà qua đó CĐS định hình HVQL thông qua vai trò trung gian của CLTTTT. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp hàm ý quản trị cho các khách sạn cao cấp trong việc ưu tiên tích hợp dữ liệu, đẩy mạnh tự động hóa và hoàn thiện hệ thống phản hồi trực tuyến nhằm nâng cao trải nghiệm số và củng cố khả năng khách hàng quay lại.

    • Tác động của lãi suất tái cấp vốn đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (trang P4-17 (P98-111))
      Nguyễn Duy Thanh
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.008
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(342K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá tác động của lãi suất tái cấp vốn (LSTCV) đến tăng trưởng tín dụng (TTTD) tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, trong bối cảnh TTTD chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố vĩ mô và đặc thù ngân hàng. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với mô hình tác động cố định (FEM) kết hợp sai số chuẩn vững nhằm đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng. Mô hình cũng xem xét yếu tố độ trễ chính sách để phân tích tác động của LSTCV đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả thực nghiệm cho thấy LSTCV có mối quan hệ ngược chiều và đạt ý nghĩa thống kê đối với TTTD của các NHTM. Khi LSTCV tăng, chi phí vốn của các ngân hàng gia tăng, từ đó làm giảm khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng (HTNH). Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu đóng góp tri thức về kênh truyền dẫn tín dụng của chính sách tiền tệ (CSTT) bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm cấp NHTM tại Việt Nam - một nền kinh tế mới nổi với đặc điểm thị trường tài chính đang phát triển. Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng của 24 NHTM trong giai đoạn 2014–2024, nghiên cứu làm rõ tác động có độ trễ của LSTCV đối với TTTD và vai trò của các yếu tố đặc thù ngân hàng trong cơ chế truyền dẫn CSTT.

    • Kế toán tài sản sinh học tại việt nam theo thông tư số 99/2025/TT-BTC và hàm ý hội tụ chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 41- Nông nghiệp (trang P4-14 (P87-97))
      Nguyễn Vũ Hoàng Ý
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.007
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(311K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm phân tích quy định kế toán đối với tài sản sinh học (TSSH) theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC (Thông tư 99), so sánh với chuẩn mực quốc tế IAS 41 – Nông nghiệp, từ đó đánh giá mức độ hội tụ của kế toán Việt Nam với thông lệ quốc tế. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, thông qua phân tích nội dung các văn bản pháp lý và tổng quan những tài liệu khoa học có liên quan. Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy các quy định kế toán về TSSH tại Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với IAS 41. Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất nằm ở cơ sở đo lường, khi Việt Nam áp dụng giá gốc, trong khi IAS 41 sử dụng giá trị hợp lý trừ chi phí bán. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp góc nhìn hệ thống về mức độ hội tụ kế toán TSSH giữa Việt Nam và quốc tế, đồng thời gợi ý định hướng tiếp cận mô hình giá trị hợp lý trong tương lai.

    • Lãnh đạo tham gia và hiệu quả công việc của nhân viên tại các ngân hàng thương mại: Vai trò trung gian của văn hóa đổi mới (trang P4-17 (P112-125))
      Nguyễn Duy Khánh
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.009
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(638K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích tác động của lãnh đạo tham gia (LĐTG) đến hiệu quả công việc (HQCV) của nhân viên trong các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đánh giá vai trò trung gian của văn hóa đổi mới (VHĐM) trong mối quan hệ này. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng, sử dụng dữ liệu khảo sát từ 561 nhân viên đang làm việc tại các NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được áp dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả phân tích cho thấy LĐTG có tác động trực tiếp và thuận chiều đến HQCV của nhân viên. Đồng thời, VHĐM đóng vai trò trung gian quan trọng, qua đó làm gia tăng mức độ ảnh hưởng của LĐTG đến HQCV. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu góp phần mở rộng việc ứng dụng lý thuyết Học tập xã hội trong bối cảnh ngành ngân hàng tại thị trường mới nổi, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò trung gian của VHĐM. Các phát hiện mang lại hàm ý quản trị thiết thực trong việc xây dựng chiến lược lãnh đạo và phát triển VHĐM nhằm nâng cao HQCV và năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.

    • Ứng dụng Blockchain trong truy xuất nguồn gốc đến ý định mua thực phẩm hữu cơ trực tuyến tại Thành Phố Hồ Chí Minh (trang P4-17 ( P138-151))
      Đào Lê Kiều Oanh
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.011
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(526K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu vận dụng mô hình Kích thích – Chủ thể – Phản hồi (SOR) và lý thuyết Chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (UTAUT) để phân tích tác động của công nghệ Blockchain đến ý định mua thực phẩm hữu cơ (TPHC) trực tuyến tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM). Trong bối cảnh niềm tin thị trường suy giảm, nghiên cứu giải thích cách các đặc trưng công nghệ chuyển hóa thành ý định hành vi xanh thông qua những trạng thái tâm lý trung gian. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp định tính để hiệu chỉnh thang đo và định lượng qua khảo sát 509 người tiêu dùng. Dữ liệu được xử lý bằng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS 4.0 nhằm kiểm định chín giả thuyết thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu chính: Đặc trưng Blockchain và ảnh hưởng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ niềm tin xanh, giá trị cảm nhận và sự thích thú. Đặc biệt, sự thích thú có tác động trực tiếp lớn nhất, khẳng định giá trị của tính minh bạch và bất biến trong việc nâng cao trải nghiệm khách hàng. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu tiên phong tích hợp đặc tính kỹ thuật Blockchain vào mô hình hành vi tâm lý. Kết quả cung cấp chiến lược giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc số để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.

    • Nhận thức hành vi tổ chức đích thực và cam kết tình cảm của nhân viên: Vai trò trung gian của vốn tâm lý và sự hoà nhập (trang P4-15 (P126-137))
      Lương Nữ Nhật Quyên
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.010
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(449K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa nhận thức hành vi tổ chức đích thực, vốn tâm lý, sự hoà nhập và cam kết tình cảm của nhân viên. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ hoạt động khảo sát 396 nhân viên đang làm việc tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM), cách tiếp cận hai giai đoạn rời rạc để mô hình hoá vốn tâm lý. Kết quả nghiên cứu chính: Nhận thức hành vi tổ chức đích thực của nhân viên có tổng tác động cùng chiều ở mức độ mạnh và đạt ý nghĩa thống kê đến cam kết tình cảm của nhân viên thông qua vai trò trung gian toàn phần của vốn tâm lý và sự hoà nhập. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ cấu trúc giữa nhận thức hành vi tổ chức đích thực, vốn tâm lý, sự hoà nhập và cam kết tình cảm của nhân viên trong bối cảnh ngành ngân hàng Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị để thúc đẩy cam kết tình cảm của nhân viên đối với tổ chức

    • Trải nghiệm số và lựa chọn nhà ở xanh: Vai trò trung gian của sự tham gia nhận thức xanh (trang P4-16 (P74-86))
      Phan Đình Nguyên
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.006
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(445K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này đánh giá tác động của trải nghiệm số (DX) lên lựa chọn nhà ở xanh (Choice) thông qua vai trò trung gian của sự tham gia nhận thức xanh (GCE) Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu này sử dụng mô hình PLS-SEM để ước lượng mô hình cho 1.772 mẫu khảo sát người mua nhà ở xanh. Kết quả nghiên cứu chính: DX đóng vai trò quan trọng đối với Choice nhờ có vai trò trung gian của GCE. Giá trị đóng góp mới: Bài viết này đóng góp vào việc mở rộng lý thuyết tiêu dùng xanh tại các thị trường mới nổi bằng cách nghiên cứu vai trò của DX thông qua vai trò trung gian của GCE.

    • Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến FDI vào: Tiếp cận theo vùng khí hậu và địa phương Việt Nam (trang P4-16 (P47-59))
      Phạm Thị Tuyết Trinh
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.004
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(367K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại 63 tỉnh/thành phố Việt Nam, tập trung vào tính không đồng nhất không gian và vai trò giảm thiểu rủi ro của năng lực điều hòa sinh thái địa phương. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 2011–2024, tích hợp đặc điểm của bảy vùng khí hậu và phân biệt giữa khu vực ven biển với nội địa để đánh giá mức độ phơi nhiễm rủi ro khí hậu (RRKH). Phương pháp DGMM được áp dụng để kiểm soát vấn đề nội sinh và tính động của dòng vốn FDI. Kết quả nghiên cứu chính: BĐKH gây tác động ngược chiều đến FDI, nhưng hiệu ứng này không đồng nhất, tập trung mạnh hơn tại các tỉnh ven biển nơi rủi ro vật lý cao. Đáng chú ý, diện tích che phủ rừng đóng vai trò điều tiết quan trọng, giúp giảm thiểu rủi ro và ổn định kỳ vọng đầu tư. Bên cạnh đó, các yếu tố như lực lượng lao động và tăng trưởng công nghiệp vẫn là động lực then chốt thúc đẩy FDI cấp địa phương. Giá trị đóng góp mới: Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cơ chế thích ứng dựa vào tự nhiên, gợi ý các chính sách thu hút FDI gắn liền với quản trị rủi ro không gian và bảo tồn tài nguyên rừng bền vững.

    • Tác động của bất định chính sách kinh tế toàn cầu đến rủi ro tín dụng: vai trò điều tiết của thể chế trong bối cảnh rủi ro đạo đức (trang P4-17 (P60-73))
      Phan Diên Vỹ
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.005
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(388K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết phân tích tác động của bất định chính sách kinh tế toàn cầu (GEPU) đến rủi ro tín dụng (RRTD) và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế (EQI) dưới lăng kính lý thuyết Thể chế và rủi ro đạo đức (RRĐĐ). Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Sử dụng dữ liệu bảng từ 118 quốc gia giai đoạn 2008–2023, nghiên cứu áp dụng System GMM hai bước và hồi quy Bayes để kiểm soát nội sinh và đảm bảo tính vững. Biến EQI được tổng hợp qua phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) từ sáu chỉ số quản trị của World Bank. Kết quả nghiên cứu chính: Thực nghiệm xác nhận GEPU có tác động âm đến NPL trong ngắn hạn, minh chứng cho hành vi "thận trọng hóa" khi ngân hàng siết chặt tín dụng để thiết lập bộ đệm rủi ro. Đáng chú ý, nghiên cứu phát hiện cơ chế "điều tiết ngược": tại các quốc gia EQI cao, uy tín chính phủ vô tình kích hoạt RRĐĐ và tâm lý ỷ lại, thúc đẩy ngân hàng duy trì khẩu vị rủi ro lớn do kỳ vọng cứu trợ ngầm định. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng về việc thể chế mạnh có thể trở thành màng lọc lỗi thúc đẩy hành vi trục lợi rủi ro trong bối cảnh biến động toàn cầu, là cơ sở để thiết lập các cơ chế giám sát RRĐĐ chuyên biệt.

    • Mô hình đánh giá tín dụng: Tiếp cận từ tổn thất phân loại sai (trang P4-17 (P33-46))
      Bùi Thị Thiện Mỹ
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.003
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(423K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Trên bộ dữ liệu gồm 9.524 khách hàng có quan hệ tín dụng với một ngân hàng, bài báo đề xuất một mô hình đánh giá tín dụng (ĐGTD) nhị phân có tính đến tổn thất khi phân loại sai. Mô hình được kỳ vọng đảm bảo hiệu quả phân loại và tối thiểu hoá tổn thất mà ngân hàng gánh chịu Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết thiết kế một mô hình hồi quy Logistic có tính đến tổn thất khi phân loại sai. Trong đó, các giá trị tổn thất khi phân loại sai phụ thuộc vào từng khách hàng. Kết quả nghiên cứu chính: Khi so sánh với các mô hình thông dụng, mô hình đề xuất có hiệu quả phân loại tốt trên cả nhóm khách hàng tốt và xấu đồng thời có mức cải thiện tổn thất là tốt nhất Giá trị đóng góp mới Tiếp cận từ tổn thất khi phân loại sai là một hướng tiếp cận hợp lý với bài toán ĐGTD. Mô hình đề xuất có hiệu quả phân loại tốt, dễ sử dụng và không đòi hỏi nhiều các hiệu chỉnh lên mô hình hồi quy Logistic truyền thống.

    • Tác động của dòng vốn ngân hàng xuyên biên đến hoạt động cho vay tại các nước ASEAN: Vai trò của cạnh tranh thị trường (trang P4-16 (P20-32))
      Phạm Thị Tuyết Trinh
      Ngày xuất bản: 07 Jul 2026 | DOI: https://doi.org/10.63065/ajeb.vn.2026.241.002
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(349K)
      Tóm tắt

      Tóm TắT: Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của dòng vốn ngân hàng xuyên biên (DVNHXB) đến cho vay trong nước của các quốc gia trong khu vực ASEAN. Bên cạnh đó, vai trò điều tiết của cạnh tranh thị trường (CTTT) trong việc định hình tác động của dòng vốn này đến cho vay cũng được xem xét. Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng ước lượng mô men tổng quát hệ thống (SGMM) hai bước cho bộ dữ liệu dạng bảng của 186 ngân hàng tại sáu quốc gia trong khu vực ASEAN. Kết quả nghiên cứu chính: Sự gia tăng thanh khoản từ dòng vốn quốc tế có đóng góp cùng chiều vào hoạt động cho vay trong nước. Ngoài ra, yếu tố cạnh tranh có khả năng điều tiết cùng chiều, giúp đẩy mạnh tác động của DVNHXB trong việc thúc đẩy các ngân hàng gia tăng hoạt động cho vay tại những quốc gia trong khu vực. Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho tài liệu hiện có bằng cách tập trung vào DVNHXB thay vì các dòng vốn quốc tế phổ biến khác. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh vai trò điều tiết của mức độ CTTT trong mối quan hệ giữa dòng vốn quốc tế và cho vay ngân hàng.