Phân tích SWOT tăng trưởng xanh tại Việt Nam
(trang 7-19)
Hoàng Thị Xuân, Nguyễn Chí Hải, Ngô Thái Hưng
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài báo nhằm phân tích thực trạng tăng trưởng xanh (TTX) tại Việt Nam thông qua mô hình SWOT, từ đó xác định các yếu tố nội tại và bên ngoài có ảnh hưởng đến TTX. Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu đề xuất định hướng chiến lược phù hợp nhằm thúc đẩy TTX.
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng mô hình SWOT để hệ thống hóa các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình thực hiện TTX tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu chính: Nghiên cứu xác định bốn điểm mạnh, bốn điểm yếu, ba cơ hội và bốn thách thức chính đối với TTX tại Việt Nam. Dựa trên đó, nhóm giải pháp chiến lược SO, ST, WO và WT được đề xuất, tập trung vào huy động tài chính xanh, chuyển giao công nghệ, cải cách thể chế và nâng cao năng lực địa phương.
Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện và có hệ thống về TTX tại Việt Nam, đồng thời đưa ra định hướng chiến lược có giá trị thực tiễn cho hoạch định chính sách và triển khai chương trình TTX của quốc gia.
Ngưỡng can thiệp của toàn cầu hoá tài chính trong mối quan hệ giữa bất định chính sách và dòng vốn FDI trên toàn cầu
(trang 20-32)
Nguyễn Thị Ngọc Linh, Phạm Thị Tuyết Trinh
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài báo kiểm định liệu có tồn tại ngưỡng can thiệp của toàn cầu hoá tài chính trong mối quan hệ giữa bất định chính sách (WUI) và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Với mẫu nghiên cứu toàn cầu trên 138 quốc gia trong giai đoạn 2000–2023, bài viết sử dụng hồi quy hiệu ứng cố định nhiều chiều (HDFE) để hấp thụ các yếu tố không quan sát được. Từ đó, nghiên cứu xây dựng phương trình tác động biên nhằm xác định liệu mối quan hệ WUI - FDI có xu hướng gia tăng, suy giảm, hay đảo chiều khi toàn cầu hoá tài chính tăng lên. Để đồng thời giải quyết hiện tượng nội sinh và phi tuyến tính, nghiên cứu kiểm tra tính vững bằng hồi quy ngưỡng bảng động.
Kết quả nghiên cứu chính: Toàn cầu hóa tài chính theo thực tế thể hiện vai trò điều tiết, với ngưỡng can thiệp theo hướng ức chế, giúp làm dịu tác động bất lợi của WUI lên dòng vốn FDI. Tuy nhiên, toàn cầu hóa tài chính theo luật định lại không được tìm thấy có vai trò can thiệp. Kết quả này đã được khẳng định về độ tin cậy khi thay thế ước lượng bằng mô hình ngưỡng bảng động.
Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu này đóng góp về mặt thực nghiệm khi chỉ ra tính không đồng nhất trong cơ chế can thiệp của toàn cầu hoá tài chính theo thực tế và luật định trong mối quan hệ giữa WUI và FDI.
Basel II và quản trị công ty tác động đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng: Vai trò của kiểm toán tại ngân hàng Việt Nam
(trang 33-49)
Phan Thị Cẩm Tú, Nguyễn Thị Thu Hiền
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết xem xét tác động của Basel II và quản trị công ty (QTCT) đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) tại ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và vai trò điều tiết của chất lượng kiểm toán (CLKT) độc lập.
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết áp dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy hiệu ứng cố định (FEM) và ước lượng sai số chuẩn gộp, sử dụng dữ liệu bảng của 21 ngân hàng niêm yết giai đoạn 2010–2024.
Kết quả nghiên cứu chính: Basel II có mối tương quan dương với LLP. Về quản trị nội bộ, quy mô hội đồng quản trị (HĐQT) có tương quan âm; chuyên môn tài chính, yếu tố nước ngoài trong HĐQT và sở hữu nhà nước có tác động dương. CLKT độc lập điều tiết: khuếch đại tác động dương của Basel II; làm suy yếu tác động dương của chuyên môn HĐQT, sở hữu nhà nước và tương quan âm của sở hữu nước ngoài.
Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu kiểm định đồng thời tương tác của Basel II, QTCT và CLKT đến LLP tại thị trường mới nổi, cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cơ quan quản lý và ban lãnh đạo ngân hàng nâng cao tính minh bạch và thận trọng.
Bất định vi mô và ổn định ngân hàng: Vai trò điều tiết của đa dạng hóa thu nhập
(trang 50-63)
Lê Ngọc Hải Vân
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích tác động của bất định vi mô (UNC) đến ổn định ngân hàng (BS) và vai trò điều tiết của đa dạng hóa thu nhập (DIV).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dữ liệu bảng gồm 30 ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM) giai đoạn 2016–2025. BS được đo bằng chỉ số tổng hợp CAMELS; UNC gồm bất định tài sản, nguồn vốn và lợi nhuận. Mô hình được ước lượng bằng System GMM để xử lý tính động và nội sinh.
Kết quả nghiên cứu chính: Cả ba dạng UNC đều làm suy giảm BS, trong khi DIV làm giảm tác động bất lợi của UNC đến BS.
Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu bổ sung bằng chứng về tác động của UNC đến BS tại Việt Nam và làm rõ vai trò điều tiết của DIV trong việc tăng khả năng chống chịu trước bất định.
Yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi xanh trong doanh nghiệp: Tổng quan hệ thống và trắc lượng thư mục
(trang 64-78)
Trần Thị Nhàn
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết hệ thống hóa các yếu tố có ảnh hưởng đến chuyển đổi xanh (CĐX) trong doanh nghiệp, làm rõ các dòng nghiên cứu, khoảng trống và mâu thuẫn học thuật; đồng thời tiếp cận CĐX như quá trình tái cấu hình chiến lược, công nghệ, nguồn lực và vận hành để tạo kết quả môi trường bền vững.
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu kết hợp trắc lượng thư mục và tổng quan hệ thống theo PRISMA. VOSviewer phân tích 227 bản ghi Scopus; 49 bài thực nghiệm giai đoạn 2000–2025 được giữ lại sau sàng lọc để tổng hợp nội dung.
Kết quả nghiên cứu chính: Sáu nhóm yếu tố có ảnh hưởng gồm công nghệ và số hóa; năng lực tổ chức; tài chính và nguồn lực; thể chế và chính sách; thị trường và các bên liên quan; lãnh đạo, chiến lược và nguồn nhân lực. Các cơ chế chính gồm đổi mới xanh, quản lý tri thức xanh, quản trị năng lượng và năng lực hấp thụ xanh. Tài liệu còn cho thấy tác động phi tuyến của chuyển đổi số, tác động hai mặt của thị trường carbon và tính bổ trợ không luôn tích cực giữa định hướng số và môi trường.
Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu phân định CĐX với các khái niệm lân cận, tích hợp những nhóm yếu tố trong khung đa cấp độ.
Vốn tri thức, trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động cảm nhận của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
(trang 79-94)
Nguyễn Kim Hùng, Nguyễn Văn Tiến
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá tác động của các thành phần vốn tri thức (VTT) và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) cảm nhận của cán bộ quản lý tại ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam, thông qua vai trò trung gian của đổi mới xanh (ĐMX) và sự gắn kết nhân viên (GKNV).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu kết hợp kỹ thuật định tính và định lượng, thực hiện khảo sát 451 cán bộ quản lý tại các NHTMCP bằng phương pháp phân tầng theo khu vực địa lý tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), Hà Nội và Đà Nẵng. Dữ liệu được phân tích, kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) qua phần mềm SPSS và AMOS.
Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả nghiên cứu cho thấy cả ba thành phần VTT đều có tác động cùng chiều đến CSR; CSR có tác động trực tiếp mạnh nhất đến HQHĐ cảm nhận và truyền dẫn tác động của VTT qua hai kênh ĐMX và sự GKNV.
Giá trị đóng góp mới: Giá trị đóng góp mới của nghiên cứu là tích hợp đồng thời VTT, CSR và hai kênh trung gian trong một mô hình; cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên tại các NHTMCP Việt Nam, trong đó ĐMX có tác động và đạt ý nghĩa thống kê đến HQHĐ.
Vai trò của cung tiền và trần lãi suất đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
(trang 95-109)
Trịnh Thị Huyền Thương, Từ Gia Bảo
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết xem xét vai trò của cung tiền và trần lãi suất (TLS) đối với VN-Index, từ đó đánh giá vai trò của các công cụ này trong việc điều tiết và hỗ trợ phát triển thị trường chứng khoán (TTCK).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian bao gồm ARDL- ECM, trong giai đoạn 01/2010–12/2024 để ước lượng các mô hình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy trong ngắn hạn, cung tiền có tác động cùng chiều đến VN-Index. Trong dài hạn, chưa có bằng chứng cho thấy cung tiền và TLS có tác động đến VN-Index. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra cơ chế tự điều chỉnh về trạng thái cân bằng dài hạn sau các cú sốc ngắn hạn từ chính sách vĩ mô.
Giá trị đóng góp mới: Bài báo bổ sung tài liệu hiện có theo hai khía cạnh: (i) Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò của chính sách TLS đối với VN-Index tại Việt Nam, một chủ đề còn ít được xem xét; và (ii) Bài báo mở rộng các nghiên cứu trước bằng cách đánh giá vai trò của cung tiền và một số yếu tố kinh tế vĩ mô đối với VN-Index trong giai đoạn hậu Covid-19, qua đó cung cấp bằng chứng cập nhật cho TTCK Việt Nam.
Vốn trí tuệ, năng lực chuyển đổi số và hiệu quả tổ chức trong ngân hàng: Bằng chứng từ phân tích trắc lượng thư mục
(trang 95-109)
Từ Thị Đức
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết nhằm lập bản đồ nền tảng tri thức và xu hướng nghiên cứu về vốn trí tuệ (VTT), năng lực chuyển đổi số (NLCĐS) và hiệu quả tổ chức (HQTC) trong ngân hàng.
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phân tích trắc lượng thư mục (TLTM) trên 576 công trình từ Scopus giai đoạn 2010–2025. Phân tích đồng trích dẫn và đồng xuất hiện từ khóa bằng VOSviewer nhằm xác định các công trình có ảnh hưởng, nền tảng tri thức và chủ đề nghiên cứu nổi bật.
Kết quả nghiên cứu chính: Nghiên cứu cho thấy xu hướng chuyển từ cách tiếp cận nguồn lực riêng lẻ sang tích hợp VTT và NLCĐS. NLCĐS ngày càng được tiếp cận như một năng lực động, giúp tổ chức khai thác và tái cấu hình hiệu quả các nguồn lực dựa trên tri thức, qua đó nâng cao HQTC.
Giá trị đóng góp mới: Bài viết cung cấp bản đồ TLTM về VTT, NLCĐS và HQTC trong ngân hàng, qua đó nhận diện nền tảng tri thức, xu hướng và khoảng trống học thuật. Kết quả gợi mở định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm tương lai, thay vì tập trung kiểm định quan hệ nhân quả.
Vốn trí tuệ, năng lực chuyển đổi số và hiệu quả tổ chức trong ngân hàng: Bằng chứng từ phân tích trắc lượng thư mục
(trang 124-136)
Vũ Trực Phức, Trần Lâm Vũ
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định sử dụng (YĐSD) dịch vụ ngân hàng số (NHS) của khách hàng cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM). Đồng thời, nghiên cứu làm rõ cơ chế tác động đa tầng của các biến trung gian (sự hữu ích, sự tin cậy và thái độ).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dữ liệu được thu thập từ 668 khách hàng cá nhân giao dịch tại 18 ngân hàng ở TP. HCM và phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM).
Kết quả nghiên cứu chính: Chuẩn chủ quan có tác động mạnh nhất đến YĐSD (β = 0,428), tiếp đến là thái độ (β = 0,288) và kiểm soát hành vi (β = 0,195). Kết quả cũng cho thấy sự tin cậy và thái độ là các mắt xích trung gian quan trọng trong quá trình chuyển hóa nhận thức công nghệ và rủi ro thành YĐSD.
Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho cách tiếp cận tích hợp TAM–TPB–UTAUT với cảm nhận rủi ro và sự tin cậy trong bối cảnh NHS tại Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò nổi trội của chuẩn chủ quan tại TP. HCM.
Vượt rào tích cực và nhận thức triệt để của nhân viên: Vai trò điều tiết của đổi mới trong công việc
(trang 137-149)
Lê Thị Thanh Kiều, Cảnh Chí Hoàng, Cao Minh Trí
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết Yêu cầu và nguồn lực công việc cùng lý thuyết Tạo dựng công việc để kiểm định tác động của hành vi vượt rào tích cực (VRTC) đến nhận thức triệt để (NTTĐ) của nhân viên, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của đổi mới trong công việc (ĐMTC).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp định tính để hiệu chỉnh thang đo và định lượng qua khảo sát 547 nhân viên doanh nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam, trong đó 477 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích chính thức bằng PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS 4.1 với 5.000 mẫu lặp bootstrap.
Kết quả nghiên cứu chính: Hành vi VRTC có tác động cùng chiều và là yếu tố dự báo mạnh nhất đến NTTĐ. ĐMTC vừa có tác động trực tiếp, vừa điều tiết làm khuếch đại quan hệ này, xác nhận sự tồn tại của một điều kiện biên trong quá trình chuyển hóa từ hành vi sang nhận thức, dù cả hai hệ số đều ở mức khiêm tốn theo ngưỡng Cohen (1988) và mô hình chỉ giải thích 15,9% phương sai của NTTĐ.
Giá trị đóng góp mới: Đây là một trong số ít nghiên cứu đặt ĐMTC ở vai trò điều kiện biên của quá trình chuyển hóa từ khía cạnh hành vi sang khía cạnh nhận thức của tạo dựng công việc, gợi ý hàm ý cho doanh nghiệp công nghệ thông tin trong thiết kế môi trường thúc đẩy nhân viên chủ động và đổi mới.
Tác động của cảm xúc lãnh đạo đến gắn kết công việc của nhân viên: Vai trò trung gian của cảm xúc tích cực
(trang 150-160)
Tân Hiếu Nghĩa
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này phân tích cơ chế cảm xúc liên kết cảm xúc lãnh đạo (CXLĐ) với gắn kết công việc (GKCV) của nhân viên trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), tập trung làm rõ vai trò trung gian của trải nghiệm cảm xúc tích cực (CXTC).
Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dựa trên lý thuyết Sự kiện cảm xúc (Affective Events Theory – AET) và mô hình cảm xúc như nguồn thông tin, nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát từ 239 người lao động và phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM).
Kết quả nghiên cứu chính: Phân tích cho thấy CXLĐ có tác động cùng chiều đến trải nghiệm CXTC của nhân viên, trong khi CXTC có ảnh hưởng mạnh đến GKCV. Đồng thời, CXLĐ vẫn duy trì tác động trực tiếp đến gắn kết, cho thấy tồn tại cơ chế trung gian bổ sung. Mô hình nghiên cứu đạt mức độ giải thích phù hợp và thể hiện năng lực dự báo ngoài mẫu.
Giá trị đóng góp mới: Những phát hiện này khẳng định vai trò trung tâm của yếu tố cảm xúc trong việc kết nối hành vi lãnh đạo với GKCV, đồng thời gợi ý rằng việc phát triển năng lực CXLĐ là hướng tiếp cận quan trọng nhằm nâng cao gắn kết nhân viên trong các doanh nghiệp Việt Nam.