Khoa học Xã hội, Nhân văn và Chính sách châu Á Asian Journal of Policy, Humanities and Social Sciences (AJPHSS)

Giỏ hàngCart

    MUACheckout
    Gửi bài viết Submit Article

    SỐ 01

    Tháng 4/2026

    • Tái cấu trúc khung năng lực dịch thuật ngành Ngôn ngữ Trung Quốc trong kỷ nguyên AI (trang 5-13)
      Lưu Hớn Vũ
      DOI: https://doi.org/10.63065/ajphss.vn.2026.01.001
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(274K)
      Tóm tắt

      Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết nghiên cứu tái cấu trúc và thích ứng khung năng lực dịch thuật trong bối cảnh GenAI cho đào tạo ngành Ngôn ngữ Trung Quốc.
      Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết tiếp cận theo hướng lý luận – kiến tạo khung, dựa trên phân tích, tổng hợp các mô hình năng lực đương đại. Nghiên cứu tiến hành đối chiếu, điều chỉnh nội hàm các thành phần năng lực theo điều kiện đào tạo đại học tại Việt Nam.
      Kết quả nghiên cứu chính: Cấu trúc năng lực dịch thuật kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI) chuyển dịch từ tạo lập văn bản sang thẩm định, kiểm chứng, quản trị công nghệ và ra quyết định nghề nghiệp. Nghiên cứu đề xuất khung năng lực thích ứng cho bậc cử nhân với sáu định hướng: tư duy siêu ngôn ngữ, kiểm chứng thực chứng, chuyển biến văn hoá, biên tập hậu dịch máy có kiểm soát, tư duy chiến lược cơ bản và đạo đức thuật toán.
      Giá trị đóng góp mới: Khái niệm hoá “thích ứng hoá” như cơ chế trung gian giữa mô hình vĩ mô và thực tiễn đào tạo. Qua đó, nghiên cứu mở rộng cách tiếp cận về năng lực dịch thuật trong kỷ nguyên AI.

    • Nhân lực khu vực công trong mô hình chính quyền hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh (trang 14-24)
      Ngô Thị Kim Liên
      DOI: https://doi.org/10.63065/ajphss.vn.2026.01.002
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(290K)
      Tóm tắt

      Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận về nhân lực khu vực công (NLKVC) từ góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phân tích thực trạng đội ngũ nhân lực tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu nhận diện các vấn đề mang tính cấu trúc trong quản trị nhân lực, đặc biệt là sự thiếu tương thích giữa vị trí việc làm, năng lực thực tế và cơ chế vận hành, yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả NLKVC trong điều kiện chuyển đổi mô hình quản trị hiện nay.
      Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết sử dụng phương pháp định tính, thông qua phân tích – tổng hợp tài liệu, phân tích chính sách và khai thác dữ liệu thứ cấp từ các văn kiện, báo cáo và công trình nghiên cứu liên quan.
      Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy vấn đề cốt lõi không nằm ở thiếu hay thừa biên chế, mà ở sự thiếu tương thích giữa vị trí việc làm, năng lực thực tế với các cơ chế đánh giá và bố trí nhân sự, làm hạn chế khả năng chuyển hóa nguồn lực con người thành hiệu quả thực thi công vụ.
      Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu góp phần làm rõ yêu cầu chuyển đổi từ quản lý theo biên chế sang tiếp cận quản trị nhân lực theo vị trí việc làm và kết quả đầu ra, gắn với thực tiễn công vụ và nền tảng đạo đức công vụ trong điều kiện bộ máy tinh gọn và chuyển đổi số.

    • Ẩn dụ ngữ pháp liên nhân trong diễn ngôn tài chính–ngân hàng: Nghiên cứu đối chiếu Anh-Việt từ góc độ Ngôn ngữ học Chức năng hệ thống (trang 25-34)
      Nguyễn Hồng Oanh
      DOI: https://doi.org/10.63065/ajphss.vn.2026.01.003
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(172K)
      Tóm tắt

      Mục tiêu nghiên cứu: Bài báo khảo sát ẩn dụ ngữ pháp liên nhân (InGM) trong diễn ngôn tài chính–ngân hàng (TC-NH) qua đối chiếu Anh-Việt, nhằm làm rõ khác biệt về mật độ, kiểu loại và chiến lược hiện thực hoá giữa hai ngôn ngữ khác loại hình. 
      Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dựa trên khung Ngôn ngữ học Chức năng hệ thống (Halliday và Matthiessen, 2014), nghiên cứu phân tích 324 cú tiếng Anh (Mishkin, 2014) và 356 cú tiếng Việt (Lê Thị Tuyết Hoa & Đặng Văn Dân, 2017), mã hoá theo sáu loại: ẩn dụ tình thái xác suất (MM-P), tần suất (MM-U), nghĩa vụ (MM-O), khuynh hướng (MM-I), ẩn dụ thức (MoM) và ẩn dụ đánh giá (EM-Ap). 
      Kết quả nghiên cứu chính: Mật độ InGM trong tiếng Việt (55,3%) cao hơn rõ rệt so với tiếng Anh (27,5%). MM-P chiếm ưu thế ở cả hai ngôn ngữ; MM-O có tỷ lệ cao nhất trong tiếng Việt. Tiếng Anh ưu tiên cú chiếu tinh thần; tiếng Việt phát triển ba chiến lược đặc thù: kết hợp tình thái–động từ nói năng, cấu trúc “theo + NP” và phân tầng tình thái, phản ánh khác biệt loại hình giữa ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ đơn lập. 
      Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu mở rộng khung InGM của SFL qua ba chiến lược đặc thù của tiếng Việt, cung cấp cơ sở ngôn ngữ học cho biên–phiên dịch và giảng dạy diễn ngôn TC-NH.

    • Tiếp cận nhân học trong triết học giáo dục và vấn đề chuyển hóa con người: Gợi mở từ tư tưởng của Jiddu Krishnamurti (trang 35-45)
      Võ Anh Tuấn
      DOI: https://doi.org/10.63065/ajphss.vn.2026.01.003
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(278K)
      Tóm tắt

      Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết phân tích sự chuyển dịch trong triết học giáo dục phương Tây hiện đại từ mô hình truyền thụ tri thức sang cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm trên nền tảng khuynh hướng nhân học giáo dục; đồng thời làm rõ sự tương hợp với triết lý giáo dục của Jiddu Krishnamurti và gợi mở hàm ý cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam.
      Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết, kết hợp với tiếp cận triết học so sánh và thông diễn học; đối chiếu các quan điểm giáo dục hiện đại với tư tưởng Krishnamurti trong bối cảnh xã hội đương đại.
      Kết quả nghiên cứu chính: Khuynh hướng nhân học giáo dục tái định vị giáo dục như một tiến trình phát triển con người toàn diện, nhấn mạnh tự nhận thức, tự do nội tâm và tính chủ thể. Tư tưởng Krishnamurti tương hợp khi đề cao “cách mạng nội tâm” như nền tảng chuyển hóa cá nhân và xã hội.
      Giá trị đóng góp mới: Bài viết kết nối khuynh hướng nhân học giáo dục với tư tưởng Krishnamurti, đề xuất cách tiếp cận giáo dục như tiến trình chuyển hóa nội tâm, góp phần mở rộng cơ sở triết học cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam.

    • Tác động của đặc điểm hội đồng quản trị và rủi ro địa chính trị đến tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (trang 46-59)
      Lê Tấn Phát, Hứa Hoàng Thiện, Lê Quang Phong
      DOI: https://doi.org/10.63065/ajphss.vn.2026.01.005
      Tóm tắt | Bài viết  | PDF(367K)
      Tóm tắt

      Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết phân tích sự chuyển dịch trong triết học giáo dục phương Tây hiện đại từ mô hình truyền thụ tri thức sang cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm trên nền tảng khuynh hướng nhân học giáo dục; đồng thời làm rõ sự tương hợp với triết lý giáo dục của Jiddu Krishnamurti và gợi mở hàm ý cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam.
      Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết, kết hợp với tiếp cận triết học so sánh và thông diễn học; đối chiếu các quan điểm giáo dục hiện đại với tư tưởng Krishnamurti trong bối cảnh xã hội đương đại.
      Kết quả nghiên cứu chính: Khuynh hướng nhân học giáo dục tái định vị giáo dục như một tiến trình phát triển con người toàn diện, nhấn mạnh tự nhận thức, tự do nội tâm và tính chủ thể. Tư tưởng Krishnamurti tương hợp khi đề cao “cách mạng nội tâm” như nền tảng chuyển hóa cá nhân và xã hội.
      Giá trị đóng góp mới: Bài viết kết nối khuynh hướng nhân học giáo dục với tư tưởng Krishnamurti, đề xuất cách tiếp cận giáo dục như tiến trình chuyển hóa nội tâm, góp phần mở rộng cơ sở triết học cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam.